Hai Bà Trưng

Năm 179 TCN sau khi Âu Lạc bị Triệu Đà thôn tính, Triệu Đà sáp nhập vùng đất này vào Nam Việt và xưng vương, tiếp tục cai trị vùng đất từ Quảng Đông – Quảng Tây cho đến toàn bộ Bắc Bộ Việt Nam ngày nay.

Năm 111 TCN, sau nhiều năm xung đột và căng thẳng, Hán Vũ Đế ra lệnh tấn công Nam Việt.

Nhà Hán huy động 2 đạo quân lớn, phối hợp tấn công từ hai phía (bắc và đông).

Nam Việt thất thủ, vua Triệu Ai Vương bị giết, vương tộc bị xóa sổ. Vùng đất của người Lạc Việt chính thức rơi vào ách thống trị của phong kiến phương Bắc. 

Từ đó, trong suốt hơn một thiên niên kỷ, người Việt sống trong hoàn cảnh bị cai trị, đồng hóa, áp bức – nhưng cũng chính từ giai đoạn ấy, ý thức dân tộc và tinh thần kháng cự âm ỉ nhen nhóm rồi từng bước lớn dậy.

Dưới thời Bắc thuộc, các triều đại Hán, Tùy, Đường liên tục đưa quan lại sang cai trị, chia đất nước thành các quận, huyện, thay đổi tập tục, ép sử dụng chữ Hán, đưa Nho giáo và hệ thống thuế khóa vào đời sống người Việt. Những tộc trưởng bản địa – vốn quen sống tự trị – bị tước quyền lực, thay vào đó là tầng lớp cai trị ngoại bang.

Nhưng quá trình đồng hóa không bao giờ trọn vẹn. Người Việt vẫn giữ tín ngưỡng riêng, vẫn thờ thần Núi, thần Nước, vẫn không từ bỏ những lễ tục của mình. Trong làng, người dân vẫn nói tiếng Việt, dạy con theo lối cha ông, và thầm lặng gìn giữ bản sắc. Văn hóa Hán tiếp xúc nhưng không xóa được gốc Việt – mà đôi khi còn được người Việt hấp thụ có chọn lọc, như một cách sinh tồn và phát triển.

Điều quan trọng nhất là: người Việt chưa bao giờ hoàn toàn cam chịu. Những cuộc nổi dậy chống lại chính quyền đô hộ nổ ra liên tục: khi thì là tiếng kêu của nông dân, khi thì là lửa giận của tầng lớp quý tộc cũ. Cuộc khởi nghĩa nào cũng bị dập tắt, nhưng ý chí không bao giờ lụi tàn.

Và rồi, vào năm 40 sau Công nguyên – chỉ chưa đầy 150 năm sau ngày rơi vào tay nhà Hán – một ngọn lửa lớn đã bùng lên. Hai người phụ nữ mang dòng dõi Lạc tướng đã cầm gươm đứng dậy. Không chỉ để trả mối thù nhà, mà còn để thổi bùng khát vọng độc lập, khôi phục quyền làm chủ đất đai, tiếng nói, tổ tiên – điều mà dân tộc Việt chưa bao giờ quên.

Đó chính là cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng – trang sử đầu tiên viết bằng máu và lòng tự tôn dân tộc trong thời kỳ Bắc thuộc.

M.Ö. 179 yılında, Âu Lạc Triệu Đà tarafından işgal edildikten sonra, Triệu Đà bu toprakları Nam Việt Krallığı’na kattı ve kendini kral ilan ederek, bugünkü Guangdong – Guangxi (Çin) ile birlikte tüm Kuzey Vietnam topraklarını yönetmeye başladı.

M.Ö. 111 yılında, yıllar süren gerilim ve çatışmaların ardından, Han İmparatoru Vũ Đế Nam Việt’e saldırı emri verdi.

Han Hanedanı, iki büyük orduyu seferber ederek kuzey ve doğudan iki koldan saldırıya geçti.

Nam Việt düşerken, Kral Triệu Ai Vương öldürüldü, kraliyet ailesi yok edildi. Lạc Việt halkının toprakları resmen kuzeydeki feodal rejimin egemenliği altına girdi.

Böylece bir binyıl boyunca, Việt halkı yabancı yönetimin, asimilasyonun ve baskının altında yaşamak zorunda kaldı –ama tam da bu karanlık dönem, millî bilinç ve direniş ruhunun yavaş yavaş kıvılcımlanarak büyüdüğü dönem oldu.

Kuzey Egemenliği döneminde, Han, Tùy, Đường gibi Çin hanedanlıkları sürekli olarak yöneticilerini göndererek ülkeyi bölgelere ve eyaletlere ayırdı, gelenekleri değiştirdi, Çince yazıyı zorunlu kıldı, Konfüçyüsçülüğü ve vergi sistemini Việt halkının yaşamına dayattı. Kendi kendini yöneten yerel reisler güçlerinden mahrum bırakıldı, yerine yabancı yöneticiler atandı.

Ancak bu asimilasyon süreci hiçbir zaman tam anlamıyla başarılı olamadı. Việt halkı kendi inançlarını korudu – Dağ Tanrısı, Su Tanrısı hâlâ kutsaldı, geleneksel törenler terk edilmedi. Köylerde insanlar Việtçe konuşmayı sürdürdü, çocuklarını atalarının yöntemleriyle eğitti, ve kimliğini sessizce ama inatla korudu.Çin kültürü temas etti ama kökleri silemedi – hatta bazen Việt halkı bu kültürü seçici bir şekilde özümsedi, bir tür hayatta kalma ve gelişme stratejisi olarak kullandı.

Ama en önemli şey şuydu: Việt halkı hiçbir zaman tamamen boyun eğmedi. Ayaklanmalar birbiri ardına patlak verdi – bazen bir köylünün çığlığıyla, bazen eski aristokratların öfkesinden. Her isyan bastırıldı, ama irade hiç sönmedi.

Ve sonunda, Milattan Sonra 40 yılında – Çin egemenliğine girdikten sadece 150 yıl sonra, büyük bir ateş parladı. İki kadın, Lạc tướng soyundan gelen savaşçılar, ellerine kılıç alarak ayağa kalktı. Yalnızca ailelerinin intikamı için değil, aynı zamanda bağımsızlık özlemini alevlendirmek, toprağın, dilin, ataların üzerindeki egemenliği geri almak için – çünkü Việt halkı bu hakkı asla unutmamıştı.

Bu, Hai Bà Trưng Ayaklanmasıydı –Kuzey Egemenliği döneminin ilk sayfası, kanla ve ulusal gururla yazılmış bir destandır.

Tô Định

Vào đầu Công nguyên, Giao Chỉ (tức miền Bắc Việt Nam ngày nay) nằm dưới sự cai trị của nhà Hán phương Bắc. Bộ máy cai trị không chỉ áp đặt luật lệ, thuế má hà khắc mà còn chà đạp truyền thống bản địa, tước bỏ quyền lực của tầng lớp Lạc tướng – những người từng cai quản bộ lạc, thị tộc từ thời Hùng Vương. Nhà Hán đã bổ nhiệm một số nhà cai trị địa phương làm cầu nối cho lợi ích của người Trung Quốc, trong đó có cha của hai chị em Trưng Trắc và Trưng Nhị. Ông giống như một số nhà cai trị được bổ nhiệm khác, đã xoay xở để đẩy lùi người Trung Quốc vào một số thời điểm để bảo vệ lợi ích của người dân địa phương.

Hai chị em Trưng Trắc và Trưng Nhị đã có cuộc sống sung túc trước khi bạo lực xảy ra khiến họ phải lập nên tổ chức dân tộc. Là con gái của vị tướng cai quản quận Giao Chỉ, hai chị em được dạy kèm về văn chương và học võ thuật cùng với cha mình. 

Lúc này, đứng đầu chính quyền Hán tại Giao Chỉ là Thái thú Tô Định- một kẻ tàn bạo, tham lam và cố tình xúc phạm phong tục người Việt.

Hắn ta đòi tăng thuế muối và bắt đầu đòi hối lộ các viên chức Việt Nam địa phương. Chồng của Trưng Trắc khi đó – Thi Sách- một Lạc tướng trẻ có uy tín lớn trong vùng châu Diên -đã bắt đầu cùng các đơn vị quý tộc cùng chí hướng của mình nổi loạn chống lại các biện pháp này. Người Hán nhận ra và cố gắng tước đoạt quyền lực của nhóm quý tộc này bằng cách bắt Thi sách và hành quyết một cách tàn nhẫn mà không xét xử công khai nhằm răn đe những người khác.  

Miladi takvimin başlarında, Giao Chỉ (yani bugünkü Kuzey Vietnam), kuzeydeki Han Hanedanı’nın egemenliği altındaydı.Yönetim aygıtı yalnızca sert yasalar ve ağır vergiler dayatmakla kalmadı, aynı zamanda yerli gelenekleri hiçe saydı, Hùng Vương döneminden beri kabile ve boyları yöneten Lạc tướng sınıfının gücünü de ortadan kaldırdı. Han Hanedanı, Çin’in çıkarlarına hizmet etmesi için bazı yerel yöneticileri atadı; bunlardan biri de Trưng Trắc ve Trưng Nhị kardeşlerin babasıydı. O da, atanmış bazı diğer yöneticiler gibi, zaman zaman Çinlilere karşı koyarak yerli halkın çıkarlarını savunmaya çalışmıştı.

Trưng Trắc ve Trưng Nhị kardeşler, şiddetli olaylar patlak vermeden önce rahat ve refah içinde bir hayat yaşıyordu. Giao Chỉ bölgesinin valisinin kızları olarak, küçük yaşta edebiyat eğitimi almış, aynı zamanda babalarıyla birlikte dövüş sanatları çalışmışlardı.

Bu sırada, Giao Chỉ’deki Han yönetiminin başında Tô Định bulunuyordu – zalim, açgözlü ve Việt halkının geleneklerine kasıtlı olarak saygısızlık eden biriydi.

Tô Định, tuz vergisini artırmak istedi ve yerel Việt yetkililerden rüşvet talep etmeye başladı. O dönemde Trưng Trắc’ın kocası olan Thi Sách – Châu Diên bölgesinde itibarlı genç bir Lạc tướng – bu uygulamalara karşı, kendi gibi düşünen soylu gruplarla birlikte isyan hazırlığına girişti. Han yetkilileri bunu fark etti ve bu soylu grubun gücünü kırmak için Thi Sách’ı yakalayıp, yargılamadan, halka gözdağı vermek amacıyla acımasızca idam etti.

Cái chết của Thi Sách không làm Trưng Trắc cúi đầu, mà trở thành ngòi nổ cho một cuộc nổi dậy có tầm vóc dân tộc đầu tiên trong lịch sử Việt Nam.

Cùng với em gái là Trưng Nhị, Trưng Trắc giương cao ngọn cờ khởi nghĩa vào mùa xuân năm 40 ở cửa sông Hát (Hát Môn chảy từ cửa sông Hồng ra, nay phù sa bồi lấp, sông Hát chỉ còn là một cái lạch nhỏ và vạt đầm hồ có tên là sông Cùng, bến Chúa, chỉ từ cầu Phùng trở xuống mới thành sông gọi là sông Đáy). Hai chị em không chỉ kêu gọi quân lính trong bộ tộc mình, mà còn nhận được sự hưởng ứng mạnh mẽ từ khắp các châu, quận,  vì khi đó ở khắp Giao Chỉ cũng có hàng chục cuộc khởi nghĩa đang âm ỉ. 

Hai Bà gửi hịch khởi nghĩa đi khắp các quận huyện, được hàng chục thủ lĩnh các cuộc khởi nghĩa như ở Hưng Yên có Trần Thị Mã Châu ở xã Quảng Châu (Tiên Lữ), Trần Lữu ở trang Đào Đầu (Tiên Lữ), Nguyệt Thai, Nguyệt Độ ở Hải Dương, Lê Chân ở Hải Phòng, Đỗ Năng Tế ở Hà Đông, Sơn Tây, Lê Thị Hoa ở Thanh Hóa, Thiều Hoa ở Phú Thọ, Vũ Thị Thục ở Sơn Nam… đã cùng kéo quân về Mê Linh hưởng ứng cuộc khởi nghĩa của Hai Bà. Ở “Nhật Nam Cửu Chân” và ở cả Hợp Phố (trên đất Trung Quốc), cũng có những cuộc khởi nghĩa. Hai Bà lập đàn thề ở Hát Môn (huyện Phúc Thọ, Sơn Tây, nay thuộc Hà Nội) tế cáo trời đất với lời thề:

Một, xin rửa sạch nước thù,
Hai, xin đem lại nghiệp xưa họ Hùng.
Ba, kéo oan ức lòng chồng,
Bốn, xin vẹn vẹn sở công lênh này.

(Thiên Nam ngữ lục)

Tháng 2 năm 40, Hai Bà chỉ huy các tướng lĩnh đưa quân từ cửa sông Hát đi hạ các thành trì của giặc, đồng thời các thủ lĩnh nghĩa quân khác cũng hạ thành giặc ở địa phương như Lã Văn Ất hạ thành Kênh Cầu (Văn Giang) sau đó hợp với đại quân của hai bà đến phá thành Luy Lâu của Tô Định (vùng Dâu, huyện Thuận Thành). Tô Định chống cự không nổi phải bỏ cả ấn tín, vàng bạc châu báu, vặt râu, thay áo, chui lần mò trốn về Nam Hải (Quảng Đông).

Dẹp xong giặc, bà Trưng Trắc lên làm vua đóng đô ở Mê Linh, miễn thuế cho dân 2 năm, cắt đặt các tướng chia quân đi chiếm giữ những nơi hiểm yếu.

Thi Sách’ın ölümü Trưng Trắc’ı yıldırmadı, tam tersine bu olay, Vietnam tarihindeki ilk büyük çaplı ulusal isyanın fitilini ateşledi.

Kız kardeşi Trưng Nhị ile birlikte Trưng Trắc, 40 yılı baharında Hát Nehri ağzında (Hát Môn – Kızıl Nehir’in kollarından biri, günümüzde alüvyonlarla dolmuş, sadece küçük bir dere olan Cùng Nehri ve Chúa iskelesi kalmıştır; Phùng Köprüsü’nden aşağısı artık Đáy Nehri olarak bilinir) isyan bayrağını yükseltti.İki kız kardeş sadece kendi boylarındaki askerleri çağırmakla kalmadı, o sırada Giao Chỉ genelinde de onlarca küçük isyanın kaynadığı ortamda çok sayıda châu ve quận’tan büyük destek aldı.

Trung Trac ve Trung Nhi isyan çağrısını tüm yerel yönetimlere gönderdi. Çağrılarına Hưng Yên’de Guang Zhou köyünden Trần Thị Mã Châu, Đào Đầu köyünden Trần Lữu (Tiên Lữ), Hải Dương’dan Nguyệt Thai ve Nguyệt Độ, Hải Phòng’dan Lê Chân, Hà Đông ve Sơn Tây’den Đỗ Năng Tế, Thanh Hóa’dan Lê Thị Hoa, Phú Thọ’dan Thiều Hoa, Sơn Nam’dan Vũ Thị Thục gibi onlarca isyan lideri karşılık verdi. Hepsi ordularını toplayarak Mê Linh’e gelip İki Kız Kardeş’nın isyanına katıldı. Ayrıca “Nhật Nam – Cửu Chân” bölgelerinde ve hatta Çin topraklarındaki Hợp Phố’da dahi isyanlar çıktı. İki Kız Kardeş, günümüzde Hà Nội’ye bağlı Phúc Thọ ilçesinin Hát Môn bölgesinde bir yemin kürsüsü kurarak göğe ve toprağa adakta bulundu ve şu sözlerle yemin etti:

Bir, düşman kanını temizleyip öç alacağım,
İki, Hùng soyunun mirasını geri getireceğim,
Üç, kocamın uğradığı haksızlığı ortadan kaldıracağım,
Dört, bu uğurda görevimi tam olarak yerine getireceğim.

(Thiên Nam ngữ lục)

40 yılının şubat ayında, İki Kız Kardeş komutasındaki birlikler Hát Nehri ağzından hareket ederek düşmanın kalelerini birer birer ele geçirdi. Aynı zamanda diğer isyan liderleri de kendi bölgelerindeki kaleleri ele geçirdi. Örneğin Lã Văn Ất, Văn Giang’daki Kênh Cầu kalesini aldıktan sonra iki bacının ana ordusuna katılarak düşmanın en büyük merkezi olan Luy Lâu kalesini kuşattı (bu kale, günümüzde Thuận Thành ilçesinin Dâu bölgesinde yer almaktadır). Tô Định bu saldırıya dayanamayarak mühürlerini, altın ve mücevherleri geride bıraktı, sakalını kesip kıyafet değiştirerek Nam Hải’ye (günümüz Guang Dong) kaçtı.

İsyanı başarıyla tamamladıktan sonra Trưng Trắc tahta çıktı ve başkenti Mê Linh’e kurdu. Halktan iki yıl vergi almadı, komutanlarına görev dağılımı yaparak önemli bölgeleri korumak üzere birlikler gönderdi.

Thi Sách – chồng Trưng Trắc

Hán Quang Vũ không cam chịu thất bại nhục nhã đã hạ lệnh cho các quận huyện ở Hoa Nam sắm sửa thuyền bè, xe cộ, khí giới, điều binh mã xâm lược nước ta. 

Vua Hán phong cho Mã Viện chức Phục Ba tướng quân, đem 20.000 quân, 2.000 chiến thuyền sang đánh. Mã Viện theo đường biên giới Lạng Sơn tiến sang đã bị nữ tướng Thánh Thiên đánh cho đại bại phải chạy về Trung Quốc. Mã Viện xảo quyệt chuyển hướng hành quân về Hợp Phố, Khâm Châu, Phòng Thành, Đông Hưng (Trung Quốc) chia làm hai cánh thủy, bộ cùng xâm nhập nước ta, trong khi vẫn nghi binh ở biên giới Lạng Sơn. Quân bộ của Mã Viện vượt sông Bắc Luân sang Móng Cái rồi theo đường 14, đến thị trấn Tiên Yên thì theo đường 18, qua Hòn Gai về cửa sông Bạch Đằng hợp với quân đi đường biển xuất phát từ Khâm Châu qua vịnh Hạ Long vào cửa sông Bạch Đằng để hợp với quân bộ, rồi cùng tiến về Lục Đầu giang, Phả Lại.

Hai Bà Trưng lập phòng tuyến ở Lãng Bạc – một vùng trũng giữa hai bờ sông Cầu từ Đông Triều đến Yên Phong. Trận đánh dữ dội, khoảng 10.000 quân của Hai Bà hy sinh. Quân ta tan vỡ, Hai Bà rút về lập phòng tuyến ở Cấm Khê. Cuộc chiến đấu ở đây kéo dài gần một năm. Cuối cùng quân ta thua to, tan vỡ.

Theo truyền thuyết các tướng sĩ có mặt ở Cấm Khê như Cả Lợi, Hai Lợi, Hà Tơ, Hà Liễu, năm anh em chàng Vịt với mục đích cứu chủ tướng đến cùng. Trận đánh diễn ra ác liệt, đẫm máu. Trưng Vương bị tử thương, voi của bà cũng bị quân giặc đâm nhiều nhát, uống nước rồi chết. Tướng sĩ liều chết cướp được xác chủ tướng đem tới nơi an toàn mai táng. Cũng theo truyền thuyết thì quân sĩ mang thi thể của Trưng Vương về an táng tại khu vực Đền Hùng.

Voi của Trưng Nhị cũng bị giặc đâm chết tại trận, quân ta tan vỡ, các tướng phần nhiều bị thương phải chạy về bản doanh. 

Theo truyền thuyết thì Hà Tơ đi cứu Hai Bà bị giặc chém vào vai, ông chạy về bản doanh ở Giàn Cẩm (Phong Châu), chưa về tới nơi thì qua đời ở cánh đồng Miễn cách Giàn Cẩm 5 kilômét. Trước tình thế như vậy, bà Trưng Nhị gieo mình xuống ngòi Cấm Khê tự tử. Nhân dân ven sông Nguyệt Đức vớt được giải yếm, giải áo của bà Trưng Nhị lập miếu thờ bà ở Xuân Đài. Miếu Giá Phú, làng Cấm Viên xưa có mộ hai ông voi.

Sau thất bại ở Cấm Khê, một số tướng lĩnh vẫn còn tiếp tục cuộc chiến đấu.

Tuy tiêu diệt được Hai Bà, đặt ách thống trị ở nước ta, nhưng quân Đông Hán cũng bị thiệt hại nặng nề. Sách Hậu Hán thư cho biết: “Mùa thu năm sau, Mã Viện đem quân về Kinh, quân quan cũng chết bốn, năm phần”, tức là vào khoảng hơn một vạn tên.

“Một dòng máu đỏ, nghìn năm chưa nhạt” – Hai Bà Trưng không những mở đầu lịch sử chống Bắc thuộc, mà còn chứng minh rằng: lòng yêu nước không phân biệt nam – nữ, và một dân tộc nhỏ vẫn có thể đứng lên chống lại kẻ thù hùng mạnh, nếu còn giữ được tinh thần độc lập.

Doğu Han İmparatoru Guangwu, aldığı utanç verici yenilgiyi hazmedemeyerek, Çin’in güneyindeki tüm yerel yönetimlere emir verip savaş gemileri, arabalar, silahlar hazırlamalarını ve büyük bir ordu toplamalarını istedi. Amaç, bölgeyi yeniden istilâ etmekti.

İmparator, Ma Yuan’ı “Denizi Sakinleştiren General” unvanıyla görevlendirerek ona 20.000 asker ve 2.000 savaş gemisi teslim etti. Ma Yuan, ilk saldırıyı Lang Son sınırı üzerinden gerçekleştirdi fakat kadın komutan Thanh Thien tarafından ağır yenilgiye uğratıldı ve Çin’e geri çekilmek zorunda kaldı. Ancak Ma Yuan, taktik değiştirerek ordusunu Hợp Phố, Qinzhou, Fangcheng ve Dongxing üzerinden iki koldan, hem karadan hem denizden saldırıya geçirdi. Aynı zamanda Lang Son sınırında sahte birlikler bırakarak dikkat dağıtmaya çalıştı. Kara birlikleri Beilun Nehri’ni geçip Mong Cai üzerinden ilerleyerek günümüz Tien Yen ilçesine ulaştı, ardından Ha Long Körfezi yoluyla Bach Dang Nehri ağzına vardı. Burada, deniz yoluyla gelen birliklerle birleşerek birlikte Luk Dau bölgesine, oradan da Pha Lai yönüne doğru ilerlediler.

İsyancı kuvvetler, Dong Trieu ile Yen Phong arasındaki alçak nehir kıyılarında Lang Bac savunma hattını kurdu. Savaş çok şiddetli geçti; yaklaşık 10.000 asker hayatını kaybetti. Savunma kırıldı, komutanlar geri çekilerek Cam Khe’de yeni bir savunma hattı oluşturdu. Buradaki direniş neredeyse bir yıl sürdü, fakat sonunda ordu ağır yenilgiye uğradı ve dağıldı.

Efsaneye göre, Cam Khe’deki son savaşta birçok sadık komutan – Ca Loi, Ha To, Ha Lieu ve Beş Kardeş – başkomutanlarını korumak için sonuna kadar savaştı. Savaş çok kanlı geçti. Liderlerden biri ölümcül şekilde yaralandı, bindiği savaş fili de birçok kez mızraklandıktan sonra su içip can verdi. Askerler büyük çabayla komutanlarının cesedini kurtarıp güvenli bir yere defnetti. Söylenene göre naaş, günümüzde Hung Tapınağı çevresine gömülmüştür.

Diğer kadın liderin de savaşta fili öldürüldü, ordu tamamen dağıldı. Komutanların çoğu yaralı olarak geri çekilmek zorunda kaldı.

Bir efsaneye göre, Ha To isimli komutan kadın liderleri kurtarmaya giderken omzundan ağır bir darbe aldı. Phong Chau’daki karargâha dönmeye çalıştı ama yol üzerindeki Mien Tarlası’nda hayatını kaybetti. Bu gelişmeler üzerine, diğer kadın lider kendini Cam Khe Deresi’ne atarak intihar etti. Nehir kenarındaki halk onun giysilerini suda bulduktan sonra ona adanmış bir tapınak kurdu. Bir başka köyde, savaşa katılan iki filin mezarları hâlâ anlatılmaktadır.

Cam Khe yenilgisinin ardından bazı komutanlar direnişi sürdürmeye çalıştı.

Sonunda Doğu Han yönetimi bölgeyi tamamen ele geçirdi. Fakat bu zaferin bedeli ağır oldu. Çin tarih kaynaklarına göre, Ma Yuan ertesi yıl sonbaharda başkente döndüğünde, ordusunun dörtte biri ya da beşte biri – yani yaklaşık 10.000 asker – ölmüştü.

“Bir damla kırmızı kan, bin yıl solmaz.” Bu iki kadın sadece Çin egemenliğine karşı ilk başkaldırıyı başlatmakla kalmadılar, aynı zamanda şunu da kanıtladılar: Vatan sevgisi kadın ya da erkek ayrımı yapmaz. Ve küçük bir halk, özgürlük ruhunu koruduğu sürece, en güçlü düşmanlara karşı bile ayağa kalkabilir.

Published by Hoàng Lê Thanh Hà

A Turkey-addict.

Leave a comment