NHÀ NƯỚC ÂU LẠC

Âu Lạc – sự kết hợp giữa
Âu Việt và Lạc Việt
Âu Lạc –
Âu Việt ve Lạc Việt’in birleşimi

Trong vùng đất rộng lớn gọi là Bách Việt bao gồm nhiều tộc người như Lạc Việt, Âu Việt, Đông Việt, Mân Việt,…

Tộc Lạc Việt là chủ nhân của nước Văn Lang – nhà nước sơ khai đầu tiên của người Việt. Tộc người này cư trú chủ yếu ở vùng trung du, đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ ngày nay, phát triển rực rỡ với nền văn hóa Đông Sơn, nổi bật qua trống đồng, đồ đồng, tục xăm mình, nông nghiệp lúa nước, chăn nuôi, đánh bắt, thủ công và buôn bán ven sông biển.

Trong khi đó, Âu Việt là nhóm tộc người sống ở vùng Tây Bắc Việt Nam và Nam Trung Quốc ngày nay (Quảng Tây, Vân Nam), có đời sống canh tác nương rẫy, săn bắn hái lượm, và luyện kim đơn giản. Họ mang đặc điểm văn hóa phức tạp hơn, do sống ở vùng giao thoa của nhiều tộc người thiểu số. Âu Việt không thuộc nước Văn Lang, mà là một nhóm riêng biệt nằm phía Bắc Văn Lang.

Bách Việt olarak adlandırılan geniş topraklarda Lạc Việt, Âu Việt, Đông Việt, Mân Việt gibi birçok farklı etnik grup bulunmaktaydı.

Lạc Việt halkı, ilk Viet devleti olan Văn Lang’ın kurucusudur. Bu topluluk, günümüzdeki Kuzey ve Kuzey Orta Vietnam’ın ova ve orta dağlık bölgelerinde yaşamış, Bronz Davullar, bronz eşya yapımı, vücut dövmeleri, pirinç tarımı, hayvancılık, balıkçılık, zanaatkârlık ve nehir/deniz kenarında ticaret gibi unsurlarla öne çıkan Đông Sơn kültürüyle parlak bir medeniyet geliştirmiştir.

Öte yandan, Âu Việt halkı ise günümüz Kuzeybatı Vietnam ve Güney Çin’in (özellikle Guangxi ve Yunnan) dağlık bölgelerinde yaşamaktaydı. Yayla tarımı, avcılık, toplayıcılık ve basit metal işçiliği gibi faaliyetlerle geçimlerini sağlarlardı. Birçok farklı etnik grubun kesişim noktasında yer aldıkları için kültürel olarak daha karmaşık bir yapıya sahiptiler. Âu Việt, Văn Lang devletine bağlı değildi; kuzeyde, bağımsız bir grup olarak varlıklarını sürdürmekteydiler.

Thục Phán và quá trình
chiếm Văn Lang
Thục Phán ve Văn Lang’ı Ele Geçirme Süreci

Theo Đại Việt Sử ký Toàn thư, Thục Vương từng cầu hôn con gái vua Hùng thứ 18 (thời vua Hùng trong Sơn Tinh – Thủy Tinh). Vì lo ngại Thục Vương có ý đồ thôn tính, vua Hùng từ chối. Thục Vương ôm hận, nhiều lần đem quân đánh Văn Lang nhưng không thành. Đến đời Thục Phán – hậu duệ Thục Vương, nhân lúc vua Hùng suy yếu, bỏ bê võ bị, Thục Phán đem quân tấn công và chiếm được Văn Lang, chấm dứt triều đại Hùng Vương sau gần 800 năm tồn tại.

(Có ý kiến cho rằng, Thục Vương chính là “Thủy Tinh” trong truyền thuyết Sơn Tinh – Thủy Tinh. Vì không được vua gả con gái cho, nên “Thủy Tinh” Thục Vương nhiều lần đem quân qua đánh Văn Lang.)

“Dai Viet’in Resmi Tarih Kronikleri”ye göre, Thục Vương, 18. Hùng Kralı’nın (Sơn Tinh – Thủy Tinh efsanesi zamanındaki kral) kızına evlenme teklifi etmişti. Ancak Hùng Kralı, Thục Vương’un ülkeyi ele geçirme niyetinden şüphelendiği için bu teklifi reddetti. Thục Vương bu duruma kin gütmüş ve birçok kez Văn Lang’a saldırmış, ancak başarılı olamamıştır. Thục Vương’un soyundan gelen Thục Phán, Hùng Kralı’nın zayıflayıp askeri işleri ihmal ettiği bir dönemde saldırarak Văn Lang’ı ele geçirmiş ve böylece yaklaşık 800 yıl süren Hùng Vương hanedanlığına son vermiştir.

(Bazı görüşlere göre, Thục Vương, Sơn Tinh – Thủy Tinh efsanesindeki “Thủy Tinh” karakteridir. Kralın kızını alamadığı için, “Thủy Tinh” yani Thục Vương, birçok kez Văn Lang’a saldırmıştır.)

Thủy Tinh – Mỵ Nương – Sơn Tinh

Còn Thục Phán, nguồn gốc của ông đến nay vẫn còn tranh cãi. Có người cho rằng ông là hậu duệ Thục Vương từ Ba Thục (Tứ Xuyên, Trung Quốc). Ý kiến khác cho rằng ông là tù trưởng Âu Việt vùng rừng núi Quảng Tây – Bắc Việt, trung tâm ở Cao Bằng. Một giả thuyết nữa khẳng định ông là thủ lĩnh vùng Lào Cai – Yên Bái.

Thục Phán’ın kökeni ise günümüzde hâlâ tartışmalıdır. Bazılarına göre o, Ba Thục’tan (günümüz Sichuan, Çin) gelen Thục Vương’un soyundandır. Başka bir görüşe göre ise, Quảng Tây – Kuzey Vietnam’ın dağlık bölgelerinde yaşayan Âu Việt kabilesinin reisi olup merkezi Cao Bằng’dadır. Bir diğer teori de onun Lào Cai – Yên Bái bölgesinin lideri olduğunu savunur.

Kháng chiến chống quân Tần

Năm 218 TCN, Tần Thủy Hoàng cho tướng Đồ Thư kéo quân xuống phương Nam chinh phạt Bách Việt. Các bộ tộc bị tấn công dữ dội, lùi sâu vào rừng. Họ tôn Thục Phán làm thủ lĩnh, tổ chức kháng chiến du kích, tập kích vào ban đêm, tiêu hao quân lương địch. Địa hình hiểm trở, khí hậu khắc nghiệt và tinh thần chiến đấu của người bản địa khiến quân Tần kiệt sức. Cuối cùng Đồ Thư tử trận, sau khi Tần Thủy Hoàng chết, Tần Nhị Thế lên ngôi kế vị, không muốn sa lầy nên cho bãi binh vào năm 208 TCN.

Sau khi đẩy lui quân Tần, Thục Phán thống nhất Âu Việt và Lạc Việt, lập nước Âu Lạc, xưng là An Dương Vương, định đô ở Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội).

Çin Qin Ordusuna Karşı Direniş

M.Ö. 218 yılında, Qin Shi Huang (Tần Thủy Hoàng), General Đồ Thư’yu Bách Việt topraklarını fethetmek üzere güneye gönderdi. Bölgedeki kabileler şiddetli saldırılar karşısında ormanlara çekildi. Onlar Thục Phán’ı lider olarak tanıdı ve gerilla direnişi örgütleyerek, gece baskınlarıyla düşmanın erzakını tüketti. Zorlu arazi, sert iklim koşulları ve yerli halkın direniş ruhu, Qin ordusunu yıprattı. Sonunda Đồ Thư savaşta öldü. Qin Shi Huang’ın ölümünden sonra tahta çıkan Qin Er Shi, savaşı sürdürmek istemedi ve M.Ö. 208 yılında ordusunu geri çekti.

Qin Ordusunu püskürttükten sonra, Thục Phán, Âu Việt ve Lạc Việt kabilelerini birleştirerek Âu Lạc adında bir devlet kurdu. Kendini An Dương Vương (An Dương Kralı) ilan etti ve başkentini Cổ Loa’ya (günümüzde Đông Anh, Hanoi) kurdu.

Tàn quân của Tần Thủy Hoàng
Cổ Loa Thành

Thục Phán chọn Cổ Loa làm kinh đô. Cổ Loa có vị trí đắc địa, nằm giữa giao điểm sông Hồng – sông Đuống, dễ dàng kết nối miền núi – đồng bằng – biển cả. Là nơi đất đai màu mỡ, dân cư đông đúc, nghề đan chài, nông nghiệp, thủ công nghiệp phát triển.

Được xây dựng dựa theo địa hình tự nhiên, đắp đất theo hình xoắn ốc. Thành có ba vòng, chu vi 16km, có hào và sông tự nhiên bảo vệ. Thành có đồn tiền tiêu, có lũy phòng ngự. Đây là minh chứng hệ thống quốc gia đã chuyển mình từ làng xã sang nhà nước sơ khai có tổ chức.

An Dương Vương nhờ Cao Lỗ, một tướng giỏi của Âu Việt, chế tạo nỏ thần liên châu, bắn một phát có thể hạ trăm quân địch. Nỏ này được xem là vũ khí tối tân nhất thời đó và đảm bảo cho sự phòng vệ của Âu Lạc.

Cổ Loa Kalesi

Thục Phán, başkent olarak Cổ Loa’yı seçti. Cổ Loa, Kızıl Nehir (sông Hồng) ve Đuống Nehri (sông Đuống)’nin kavşağında, dağlık bölge – ova – deniz arasında kolayca bağlantı kurulan stratejik bir konumda yer alır. Verimli topraklara, yoğun nüfusa sahip olan bu bölgede balıkçılık, tarım ve el sanatları gelişmişti.

Kale, doğal arazi yapısına uygun şekilde, spiral (sarmal) formda toprak yığarak inşa edildi. Toplamda 3 sur halkası vardır, çevresi 16 km, çevresinde hendekler ve doğal nehirlerle korunur. Ayrıca ileri karakollar ve savunma surları bulunur. Bu yapı, ülkenin köy topluluklarından örgütlü bir ilkel devlete geçiş yaptığını gösteren önemli bir kanıttır.

An Dương Vương, Âu Việt’in yetenekli generali Cao Lỗ sayesinde, bir atışta yüz düşmanı öldürebilen çoklu ok atan sihirli bir yay (nỏ thần liên châu) yaptırdı. Bu yay, o dönemin en gelişmiş silahı olarak kabul edilir ve Âu Lạc’ın savunmasında önemli rol oynamıştır.

Bản đồ thành Cổ Loa
Thành Cổ Loa bản đồ phục dựng
Cuộc xâm lược của Triệu Đà

Nói thêm về nhà Tần, sau khi Tần Thủy Hoàng mất, Triệu Đà (nhân vật này về sau sẽ đánh chiếm được nước Âu Lạc, khởi nguồn cho 1000 năm Bắc Thuộc của dân tộc Đại Việt) sau khi thừa kế chức vụ Nam Hải úy của Nhâm Ngao đã ly khai khỏi nhà Tần và tiến đánh Quế Lâm, Tượng Quận. TRiệu Đà lập nên nước Nam Việt, tự xưng là Nam Việt Vũ Vương. Tuy nhiên “Nam Việt” này không phải là nước Việt của chúng ta đâu. Thủ đô của nước này là Phiên Ngung (nay là Quảng Châu, Trung Quốc). Đây là một vương quốc nửa Hán – nửa Việt, ban đầu độc lập nhưng sau lệ thuộc vào nhà Hán và bị nhà Hán thôn tính năm 111 TCN.Có thể nói, Nam Việt là một vương quốc của người Hán cai trị trên đất Âu Lạc, có tính chất xâm lược và đồng hóa. 

Trước nhiều lần đánh vào Âu Lạc không thành, Triệu Đà bèn vờ cầu hòa, xin kết thân, mưu mẹo khác thôn tính từ bên trong. Đà ngỏ ý muốn kết thân hoà hiếu, ngoài mặt xin cho con là Trọng Thủy sang ở rể. Hồng Châu cũng tin lời, gả con gái Mỵ Châu cho Trọng Thủy sang làm rể và sống tại Cổ Loa.

Sau khi vua gả con gái cho con của Triệu Đà và lơ là chuyện phòng thủ chính sự, Cao Lỗ vì không còn được trọng dụng nên lui về ẩn ở nơi núi rừng. Lần lượt các tướng giỏi khác như Nồi Hầu, Đinh Toán kẻ bắt mãn, người bị bạc đãi cũng lần lượt rời bỏ triều đình. Sau khi nắm được binh tình, kẻ sách phòng thủ cũng như nhận thấy nội bộ Âu Lạc đã bắt đầu rạn nứt, biết thời cơ đã đến, Trọng Thủy tìm cách quay về Phiên Ngung thông báo cho quân Triệu.

Nắm được tình hình chi tiết nước Âu Lạc, Triệu Đà lập tức tiến binh. Lần này, nhờ có tin do thám từ bên trong, nên quân Triệu tiến binh không mấy khó khăn. Hơn nữa, Âu Lạc lâu nay quân binh rệu rã, tướng chỉ huy Cao Lỗ lại không còn, nên khả năng chiến đấu giảm sút đáng kể. Nỏ liên châu không còn là lợi thế tuyệt đối do Trọng Thủy đã nắm được bí mật. Thành Cổ Loa có tường kiên cố cũng không thể bù lại một đội quân đã mất hết cốt lõi sức mạnh.

Quân An Dương Vương không cầm cự nổi, vua phải đem con gái Mỵ Châu rời kinh thành hướng ra biển mà chạy. Vừa chạy đến vùng cửa biển Mê Linh, vua phát hiện ra dấu vết lông ngỗng do Mỵ Châu rắc lại, quân Triệu nhờ thế mà dễ dàng lần đến. Khi biết Trọng Thủy đang trên đường truy đuổi, vua hiểu con gái đã phản bội. Ông liền rút gươm chém chết Mỵ Châu rồi tự vẫn sau. Tại thành Cổ Loa ngày nay, trong am thờ Mỵ Châu vẫn còn lưu giữ một bức tượng đá không đầu, tương truyền đó là tượng nàng Mỵ Châu.

Triệu Đà’nın Âu Lạc’ı İşgali

Qin Hanedanı’na dair ek bilgi olarak: Qin Shi Huang öldükten sonra, Triệu Đà (bu kişi ileride Âu Lạc’ı fethederek Đại Việt halkı için 1000 yıllık Kuzey Sömürgesi dönemini başlatacaktır), Nam Hải Komutanlığı görevini Nhâm Ngao’dan devraldıktan sonra Qin Hanedanı’ndan ayrıldı ve Quế Lâm ile Tượng Quận bölgelerine saldırdı. Triệu Đà burada Nam Việt Krallığı’nı kurarak kendisini Nam Việt Vũ Vương (Nam Việt Savaş Kralı) ilan etti. Ancak burada bahsedilen “Nam Việt”, bizim bugünkü Việt Nam değil. Bu devletin başkenti, günümüzdeki Guangzhou (Quảng Châu) olan Phiên Ngung idi. Nam Việt, başta bağımsız görünen ancak sonra Han Hanedanı’na bağlanan, yarı Han – yarı Việt özellikli bir krallıktı ve 111 M.Ö. yılında Hanlar tarafından ilhak edildi.

Bu devlet, Âu Lạc topraklarında Han halkının kurduğu ve yönettiği bir istilacı – asimilasyoncu krallık olarak değerlendirilebilir. Âu Lạc’a karşı yaptığı birçok saldırı başarısız olunca, Triệu Đà taktik değiştirdi: Barış istemiş gibi davranarak içten fethetme yoluna gitti. Görünüşte dostane ilişkiler kurmak istediğini belirterek, oğlu Trọng Thủy’yi damat olarak göndermek istedi.

An Dương Vương, bu sözlere inanarak, kızı Mỵ Châu’yu Trọng Thủy ile evlendirip Cổ Loa’da birlikte yaşamalarına izin verdi. Bu evlilikten sonra kral, savunma işlerini ihmal etmeye başladı. General Cao Lỗ, artık saygı görmediği için ormanlara çekilerek inzivaya çekildi. Diğer yetenekli komutanlar olan Nồi Hầu ve Đinh Toán gibi kişiler de biri kırgın, biri dışlanmış olarak sarayı terk ettiler. Trọng Thủy, içeriden askerî durumu ve savunma sırlarını öğrenince fırsatın geldiğini anladı ve gizlice Phiên Ngung’adönüp babası Triệu Đà’ya haber verdi.

Âu Lạc’ın iç durumu ve savunma sistemi hakkında ayrıntılı bilgiye sahip olan Triệu Đà, hemen sefere çıktı. Bu kez içeriden aldığı casusluk bilgileriyle, Triệu ordusu kolayca ilerledi. Ayrıca Âu Lạc’ın ordu yapısı zayıflamıştı, Cao Lỗ gibi stratejik bir komutan kalmamıştı. Efsanevi silah olan çoklu ok atan yay da artık avantaj sağlamıyordu çünkü Trọng Thủy sırrını öğrenmişti. Cổ Loa’nın sağlam surları bile artık askerî gücünü kaybetmiş bir orduyu kurtaramazdı.

An Dương Vương’un ordusu direnemedi. Kral, kızı Mỵ Châu ile birlikte başkentten kaçarak deniz yoluna yöneldi. Mê Linh bölgesindeki sahil ağzına geldiklerinde, kral yolda serpilmiş kaz tüylerini fark etti – Mỵ Châu bunları Trọng Thủy’nin takip edebilmesi için bırakmıştı. Durumu anlayan kral, kızının ihanete ortak olduğunu fark etti. Kılıcını çekerek Mỵ Châu’yu oracıkta öldürdü, ardından da intihar etti. Günümüzde Cổ Loa’da Mỵ Châu’ya adanmış bir tapınakta, başsız bir taş heykel bulunmaktadır. Halk arasında bu heykelin, ihanetin bedelini canıyla ödeyen Mỵ Châu’nun heykeli olduğuna inanılır.

Mỵ Châu rải lông ngỗng để Trọng Thủy đi theo khi đang trốn chạy cùng An Dương Vương (Mỵ Châu, An Dương Vương ile kaçarken Trọng Thủy’nin izleyebilmesi için kaz tüyleri serpti)

An Dương Vương mất, nước Âu Lạc lúc này mất tinh thần, nhanh chóng tan rã, dân chúng thất thế. Triệu Đà không cần đánh thêm trận nào, các cận thần dâng thành đầu hàng. Từ đó không còn nước Âu Lạc nữa, bắt đầu 1000 năm Bắc Thuộc của dân tộc Việt.

Nói thêm về Trọng Thủy: Sau khi Mỵ Châu qua đời, Trọng Thủy vô cùng hối hận và đau đớn vì sự hy sinh của nàng. Chàng ngày đêm thương nhớ vợ, mãi canh cánh trong lòng nỗi ân hận không nguôi. Truyền thuyết kể lại rằng Trọng Thủy đã tìm đến giếng nước nơi Mỵ Châu thường tắm gội khi còn sống – và chính tại nơi đó, chàng gieo mình tự vẫn. Từ đó, giếng ấy được người đời gọi là Giếng Trọng Thủy, như một biểu tượng cho mối tình bi thương giữa hai người.

An Dương Vương’un ölümüyle birlikte Âu Lạc halkı morali tamamen kaybetti, ülke hızla dağıldı ve halk çaresiz kaldı. Triệu Đà bir savaş daha yapmaya gerek duymadan, kraliyet danışmanları kaleyi teslim ederek teslim oldular. Böylece Âu Lạc devleti tarihten silindi ve Việt halkının 1000 yıllık Kuzey Sömürgesi dönemi başladı.

Trọng Thủy hakkında bir not daha: Mỵ Châu’nun ölümünden sonra, Trọng Thủy büyük bir pişmanlık ve acı duydu. Karısının fedakârlığı karşısında yüreği sızlayan Trọng Thủy, onu her gün özlemle anarak derin bir vicdan azabıyla yaşadı. Efsaneye göre, Trọng Thủy bir gün Mỵ Châu’nun hayattayken sık sık yıkandığı kuyuya gitti – ve orada kendini o kuyuya atarak intihar etti. O günden beri, bu kuyuya “Trọng Thủy Kuyusu” adı verilmiştir; bu kuyu, iki aşığın trajik aşkını simgeleyen bir yer olarak halk arasında anlatılagelir.

Giếng Trọng Thủy (Trọng Thủy Kuyusu)

Published by Hoàng Lê Thanh Hà

A Turkey-addict.

Leave a comment